Ca bệnh thực tế
 PRRS ngày 22/12/2017

Một số thông tin cơ bản về trang trại lợn trong bài viết này được trình bày ở hình dưới dây:

Tình hình tiêm phòng vắc-xin của trại như sau:

1. Thông tin chẩn đoán sơ bộ định hướng lấy mẫu xét nghiệm

  • Qua việc xác minh các thông tin từ tình hình chăn nuôi, quy mô chuồng trại và các ca bệnh mổ khám thì có thể nghi ngờ trại này xuất hiện dịch bệnh PRRS hoặc dịch tả lợn, từ đó kế phát sang các bệnh khác, biểu hiện:
  • Sau thời gian làm vắc-xin PRRS khoảng 7-10 ngày thì đàn lợn thịt xuất hiện nhiều con có biểu hiện như khó thở, ho nhiều, tím tái ở các vùng da mỏng và tai, sau đó tiêu chảy.
  • Lợn con mới sinh yếu, run rẩy, lông xù, nằm chồng đống lên bụng mẹ, một số có biểu hiện thần kinh (bơi chèo),… Sau đó 3-4 ngày thì xuất hiện hiện tượng tiêu chảy
  • Lợn nái sốt nhẹ, thân nhiệt 40,5 độ C

2. Phản ứng và cách xử lý của chủ trại

  • Trước khi xuống xác minh các thông tin tại trại, chủ trại đã tiến hành điều trị kháng sinh (tiêu hóa & hô hấp) cho các con có biểu hiện bệnh.
  • Thông tin về lịch tiêm phòng vắc-xin, thuốc điều trị đều được chủ trại cung cấp.
  • Các con lợn có biểu hiện thần kinh và yếu đều bị chủ trại loại thải luôn
  • Nghi mắc Dịch tả lợn (có thể do tham khảo từ các nguồn thông tin khác hoặc do kinh nghiệm điều trị) đã tiến hành dùng vắc-xin nhược độc DTL tiêm hết cho toàn đàn heo nái trước khi kĩ thuật xuống trại lấy mẫu chẩn đoán 1 ngày. Do đó, không thể lấy mẫu để xét nghiệm dịch tả lợn được do mới tiêm phòng vắc-xin.

3. Tiến hành xác định các thông tin cơ bản và lấy mẫu

  • Xác định các thông tin về lịch tiêm vắc-xin, thuốc điều trị
  • Theo dõi biểu hiện lâm sàng trên đàn lợn nái và lợn thịt tại hai ô chuồng. Tiến hành lấy mẫu máu để xét nghiệm ELISA nhằm đánh giá đáp ứng miễn dịch của đàn lợn nái, lợn thịt, lợn con theo mẹ của đàn lợn đang xảy ra vấn đề. Các mẫu máu được lấy ngẫu nhiên ở 2 dãy chuồng, đánh số mẫu và được bảo quản và vận chuyển về phòng thí nghiệm đảm bảo yêu cầu.
  • Không lấy mẫu bệnh phẩm để kiểm tra sự tồn tại của mầm bệnh do đàn lợn này vẫn còn virus PRRS trong cơ thể do mới tiêm phòng vắc-xin PRRS nhược độc (virus còn sống và nhân lên trong cơ thể của lợn) trong thời gian chưa quá 40 ngày.

4. Thông tin về việc lấy mẫu xét nghiệm

5. Kết quả xét nghiệm ELISA

6. Phân tích kết quả phản ứng ELISA

a. Chuồng thịt

  • Đáp ứng miễn dịch ở lô lợn sau cai sữa và lợn choai có sự sai khác nhau, điều này là phù hợp với dữ liệu tiêm phòng vắc-xin của chủ trại, do tiêm cho 2 lô này có lịch tiêm phòng vắc-xin khác nhau, có sự xen kẽ và gối lịch tiêm phòng vắc-xin.
  • Riêng 2 mẫu lợn sau cai sữa có sự bất thường về đáp ứng miễn dịch. Có 2 trường hợp xảy ra:
  • Mẫu 1 (S/P = 0,67) là bình thường, thì có thể con lợn này mới được tiêm phòng vắc-xin hoặc là được tiêm phòng vắc-xin một thời gian dài. Mức đáp ứng miễn dịch này có thể được coi là chưa có bất thường ở đàn sau cai sữa này.
  • Mẫu 2 (S/P = 1,79) là không bình thường khi so sánh với mẫu 1, do mẫu 1 và 2 được lấy từ hai đàn có sự tương đồng về độ tuổi. Điều này chứng tỏ mẫu 2 được lấy từ lợn có đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và cao với virus PRRS. Đáp ứng này có thể có được do lợn được tiêm vắc-xin hoặc tiếp xúc với virus PRRS trong tự nhiên. Nhưng so với mẫu 1 thì có thể kết luận mẫu 2 là do lợn tiếp xúc với virus PRRS trong tự nhiên (trong môi trường chuồng nuôi).

b. Chuồng nái

  • Lợn nái nuôi con:
  • Đáp ứng miễn dịch ở 3 mẫu lợn nái nuôi con là không đồng đều nhau dù các lợn nái này đã được tiêm phòng vắc-xin định kỳ cách thời điểm lấy máu 10 ngày. Điều này, có thể do chất lượng vắc-xin (độ đồng đều giữa các lô vắc-xin) hoặc do quy trình bảo quản, sử dụng vắc-xin chưa được đảm bảo.
  • Do có quy trình tiêm phòng vắc-xin lặp lại trên lợn nái, nên đáp ứng miễn dịch có sự sai khác giữa các lợn (do giai đoạn sinh lý, do các yếu tố stress,…) nên các giá trị hàm lượng kháng thể ở 3 mẫu lợn nái khó có thể đánh giá được. Cần lấy thêm mẫu để đánh giá cho toàn đàn lợn nái.
  • Lợn con theo mẹ
  • Đáp ứng miễn dịch ở các lợn con theo mẹ khác nhau là do độ tuổi khác nhau và hàm lượng kháng thể nhận được từ qua sữa của lợn mẹ.
  • Riêng mẫu 5, 6 với giá trị S/P lần lượt là 0,64 và 0,82 chứng tỏ lợn con đã sản sinh ra kháng thể đặc hiệu kháng lại virus PRRS bên cạnh kháng thể thụ động nhận được từ lợn mẹ. Các lợn con khác đều nhận được kháng thể thụ động kháng virus PRRS từ lợn mẹ nhưng mức này đều thấp, nhưng ở hai mẫu này thì giá trị này vượt quá mức bình thường. Điều này chứng tỏ lợn con có thể tiếp xúc với virus PRRS trong tự nhiên (trong môi trường chăn nuôi).

7. Kết luận

  • Như vậy, chứng tỏ trong trại lợn đã có sự xuất hiện của virus PRRS gây bệnh (tuy nhiên không rõ là do virus từ vắc-xin hay từ ngoài vào do trại mới đổi vắc-xin PRRS nhược độc mới từ một công ty khác với chủng virus khác).
  • Đối với dịch tả lợn ở trại này không kiểm tra được do mới tiêm phòng vắc-xin trước thời gian lấy mẫu 1 ngày.
  • Trại đã có sự lây lan virus giữa hai dãy chuồng, từ dãy chuồng thịt sang dãy chuồng nái. Điều này, do khâu quản lý trại, vệ sinh thú y chưa đảm bảo đúng yêu cầu kĩ thuật của trại lợn.

8. Hướng giải quyết

  • Tiến hành khâu vệ sinh, sát trùng toàn bộ chuồng trại, nâng cao khâu quản lý chuồng trại.
  • Điều trị triệu chứng đối với các lợn thịt có biểu hiện bệnh (đường hô hấp và tiêu hóa)
  • Ổn định đáp ứng miễn dịch của đàn lợn nái. Không tiêm phòng vắc-xin PRRS nhược độc vào trại nữa. Cần xác định được nguyên nhân gây ra đáp ứng miễn dịch trên lợn từ vắc-xin hay từ ngoài môi trường. Sau thời gian 1 tháng, loại thải hết các heo chết, tiến hành lấy máu để kiểm tra đáp ứng miễn dịch của toàn đàn lợn nái, sau đó tiến hành quyết định sử dụng vắc-xin PRRS hay không. Sau đó 6 tháng tiến hành xác định cách để khống chế dịch bệnh trong đàn bằng vắc-xin nhược độc.
  • Có thể xác định sự lưu hành của virus PRRS trong trại hiện nay là chủng virus thuộc genotype nào?

Ý kiến bạn đọc (0)

Gửi bình luận