Một số phương pháp hay dùng chẩn đoán bệnh tai xanh (PRRS)

Khi kỹ thuật phát triển thì quan trọng nhất vẫn là các bác sỹ thú y và các nhà chăn nuôi biết sử dụng và kết hợp một cách tốt nhất để có thể kiểm soát bệnh một cách hiệu quả. Trong phần này chúng ta sẽ cùng xem xét các biện pháp từ quá khứ đến hiện tại đã có cho việc chẩn đoán PRRS.

Quy trình lấy mẫu
Bước quan trọng đầu tiên để chọn được một phương pháp chẩn đoán phù hợp là phải quyết định mục tiêu mà các kiểm tra thể hiện. Những mục tiêu này có thể bao gồm phát hiện sự nhiễm trùng trên ít nhất một heo trong đàn, xác định mật độ lưu hành của virus trong trại, khẳng định lại sự tiếp xúc của heo đối với virus hay chích vắc xin hoặc đánh giá thời điểm nhiễm. Những yếu tố này sẽ quyết định xem nên chọn heo nào để kiểm tra, số mẫu cần kiểm tra và loại mô phù hợp để sử dụng. Hơn nữa, việc đọc các kết quả kiểm tra riêng lẽ có thể không phản ánh được tình trạng của cả đàn khi mà thời gian nhiễm rất khác nhau trên từng heo, vì vậy cần cân nhắc khi lấy mẫu. Một khi mục đích đã được xác định, mỗi bác sỹ thú y có thể quyết định là sẽ kiểm tra từng heo, từng nhóm quần thể hay toàn đàn.

Chọn con số đúng 
Rất nhiều yếu tố cần được cân nhắc khi chọn lựa số lượng mẫu lấy phù hợp để chẩn đoán PRRS. Để có thể xác định được ít nhất một mẫu dương tính từ một đàn cần phải cân nhắc các yếu tố như độ lớn của đàn, mức độ lưu hành ước lượng của mầm bệnh, độ tin cậy, độ nhạy và độ đặc hiệu của loại xét nghiệm được sử dụng. Hiện có một số bảng công cụ giúp chúng ta chọn số lượng mẫu đúng với việc cân nhắc các yếu tố đã đề cập ở trên và để ước lượng số lượng mẫu cần sử dụng nhằm xác định mức độ lưu hành của virus PRRS trong đàn;

Tầm quan trọng của việc chọn thời điểm kiểm tra 
Thời gian lấy mẫu là rất quan trọng vì cơ chế nhiễm trùng và đáp ứng miễn dịch bao gồm virus huyết, bài thải virus, đáp ứng kháng thể và sự xuất hiện bệnh tích có thể xảy ra trong một số khung thời gian nhất định (biểu đồ 1).

Biểu đồ 1. Các xét nghiệm chẩn đoán phù hợp dự trên diễn tiến của sự nhiễm virus PRRS 



Nguồn: Adapted from Cano, 2013; additional information from Langenhorst et al. 2012, and Zimmerman et al. 2012

Có 2 loại xét nghiệm chẩn đoán chính: phát hiện virus và phát hiện sự tiếp xúc. Để phát hiện virus đòi hỏi phải lấy mô có chứa virus, dịch rửa phế quản phế nang (BAL), dịch xoang ngực, tinh dịch, máu, dịch hầu họng hoặc mẫu môi trường; trong khi đó để phát hiện sự tiếp xúc với virus cần có máu, dịch hầu họng hoặc dịch tiết từ cơ để kiểm tra kháng thể PRRS. Do đó việc lựa chọn loại mẫu nào sẽ được quyết định dựa vào rất nhiều các yếu tố bao gồm mục đích đạt được, loại xét nghiệm được lựa chọn và các điều kiện hiện có.
 
Việc suy nghĩ về khả năng lấy một loại mẫu nào đó cũng rất quan trọng vì có một số loại mẫu rất phức tạp và khó khăn để lấy và bảo quản. Ví dụ như dịch hầu họng thì dễ và đơn giản nếu so với dịch rửa phế quản phế nang nhưng dịch hầu họng thì không phù hợp để chẩn đoán cá thể vì mẫu được lấy từ một nhóm heo trong chuồng (lấy từ dây thừng đã được heo nhai).

Các xét nghiệm chẩn đoán 
Kể từ khi phát hiện virus PRRS và/hoặc kháng thể của nó thông qua các kỹ thuật khác nhau, một trong số chúng hiện nay hiếm được sử dụng trong thực tế vì rất nhiều lý do như: kỹ thuật hướng nhiều về nghiên cứu, tốn nhiều thời gian, chi phí cao hoặc đòi hỏi phải đào tạo nhân lực cao. Trong các phần sau, chúng tôi sẽ mô tả ngắn gọn các kỹ thuật hiện đang được sử dụng, đề cập đến một số kỹ thuật kỹ hơn để minh chứng rằng các kỹ thuật chẩn đoán đã tiến xa như thế nào qua những năm gần đây. Một tóm tắt các đặc điểm chính của các kỹ thuật mới và được sử dụng rộng rãi có thể tìm thấy trong Bảng 1.

Bảng 1. Tóm tắt đặc điểm của các xét nghiệm chẩn đoán chính

Xét nghiệm Khoảng thời gian Nhận xét
RT-PCR Có ích khi hàm lượng virus huyết đạt đỉnh ở 4–7 ngày sau nhiễm; không phát hiện được ở 29–35 ngày sau nhiễm (tồn tại lâu hơn trong hạch lympho và hạch hạnh nhân) độ nhạy và độ đặc hiệu cao
IHC Có ích tới 28 ngày sau nhiễm; không khuyến cáo dùng 90 ngày sau nhiễm độ đặc hiệu cao; độ nhạy trung bình. giúp xác định truyền lây dọc từ mẹ sang con; có thể không hiệu quả khi có sự đa dạng chủng virus phân lập.
Nhuộm FA  Có thể dùng trong giai đoạn nhiễm sớm (1-28 ngày sau nhiễm), trực tiếp và tức thời sau khi ủ trong môi trường tế bào (30-70 ngày sau nhiễm). Không khuyến cáo trong giai đoạn muộn của bệnh Có thể không phát hiện được các chủng khác nhau về mặt di truyền
ELISA Có thể phát hiện sớm thông qua IgM (7 ngày sau nhiễm). Khả năng phát hiện tới cuối giai đoạn nhiễm bệnh (hơn 100 ngày sau nhiễm) độ nhạy cao, độ đặc hiệu cao; mẫu dịch xoang miệng có độ nhạy thấp; mức độ kháng thể phát hiện không phản ánh độc lực của chủng gây bệnh
FMIA Trong huyết thanh, kháng thể có thể được phát hiện sớm 7 ngày sau nhiễm và tồn tại đến hơn 202 ngày sau nhiễm độ nhạy và độ đặc hiệu cao
 IFA gián tiếp Phát hiện nhiễm sớm (5 – 9 ngày sau nhiễm, tương ứng với IgM và IgG), khoảng 21–28 ngày (IgM) và 90–145 (IgG) ngày sau nhiễm độ đặc hiệu cao; độ nhạy biến động

Nguồn: dữ liệu từ Ellingson, 2013

Tương lai của việc chẩn đoán PRRS 
Cần phải có một phương pháp kết hợp giữa việc giám sát thường xuyên và việc chẩn đoán để có thể đạt được thành công trong việc kiểm soát và loại trừ virus PRRS khỏi đàn heo. Mặc dù hiện có một loạt các kỹ thuật chẩn đoán PRRS nhưng không có kỹ thuật nào đáng tin cậy 100% dưới tất cả các điều kiện và cho tất cả các loại heo. Ví dụ như kỹ thuật phân tử có độ nhạy và đặc hiệu cao để đánh giá sự nhiễm virus, những một số virus có sự đa dạng về kiểu gen có thể không phát hiện được. Tương tự, các xét nghiệm huyết thanh học để phát hiện kháng thể PRRS mang đến thông tin về việc trước đó có sự tiếp xúc với virus hay không nhưng lại không có ý nghĩa đối với những trường hợp nhiễm trùng dai dẳng. Thêm vào đó mức kháng thể cũng như virus phát hiện được thay đổi theo quá trình nhiễm, làm cho việc thời điểm kiểm tra đối với một số xét nghiệm là vô cùng quan trọng để chẩn đoán thành công. Đối với tất cả các xét nghiệm, dương tính giả và âm tính giả có thể tác động lớn đến việc đưa ra các quyết định phù hợp trong việc quản lý đàn, do đó mà các xét nghiệm phụ trên các mẫu sử dụng các chiến lược khác nên được thực hiện khi thấy phù hợp. Thực tế việc đọc kết quả xét nghiệm có thể gặp khó khăn. Khi những kỹ thuật mới được thêm vào trong danh sách, tầm quan trọng của việc đảm bảo sử dụng đúng kỹ thuật vào đúng thời điểm trên đúng đối tượng trở nên quan trọng hơn, và với việc đọc và hiểu đúng kết quả xét nghiệm sẽ tối ưu hóa hiệu quả quản lý và kiểm soát dịch bệnh

Nguồn: PRRS.com

Ý kiến bạn đọc (0)

Gửi bình luận